Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

TỪ VĂN NGHỆ AN NHƠN TẬP 14/2019, NGẪM VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THỊ XÃ - Bài của Lê Bá Duy

.

 Cầm trên tay cuốn Văn nghệ An Nhơn số Xuân Kỷ Hợi do Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý I năm 2019, lướt qua một lượt, lòng tôi vui có, buồn có. Buồn thì đơn lẻ, vui thì đông đầy, tình thì ăm ắp. Vậy thì buồn có gì tiêu biểu, đáng nói. Lấy vui hòa vui cùng với anh chị em văn nghệ cất lên dàn đồng ca cộng hưởng tình yêu quê hương, con người quê mình đang ngày càng thay da đổi thịt. Mùa xuân vẫn còn vương trên sắc lá, ăm ắp niềm vui, căng tròn sức sống. Nhâm nhi từng trang sách để sẻ chia, đồng cảm  cùng với những đứa con tinh thần của các tác giả trong tập mới thấy lòng ấm áp, nhẹ nhàng và đằm thắm tình người hơn
    Tôi thích khổ tạp chí 16x24 cm này, thích cái lối trình bày trang nhã, bắt mắt, font chữ rõ ràng, sang trọng của Văn nghệ An Nhơn. Hình thức chuẩn, đẹp! Nội dung phong phú! Mừng cho Hội VHNT Thị xã quê mình lại tiếp tục cho ra mắt một cuốn sách ấn tượng nữa!
    Điều tôi để tâm nhiều là chất lượng của tạp chí. Số này nội dung có đủ các thể loại (ra quân hùng hậu). Ngoài những bài viết về An Nhơn đổi mới từ “Thị” lên “Thành”, viết về Kỷ niệm 230 năm chiến thắng Ngọc Hồi –Đống Đa…, về Tây Sơn Điện-Bảo tàng Quang Trung…; Trang thơ của 47 tác giả, 6 truyện ngắn, và một số tạp bút-tản văn, bút ký, tùy bút, giới thiệu tác giả-tác phẩm, văn học nước ngoài, còn có trang thiếu nhi và trang viết trong nhà trường… Thể loại âm nhạc, mỹ thuật, ảnh, cũng được chọn lọc đưa vào tạp chí với dụng ý nghệ thuật tôn vinh cái đẹp của Đất và Người An Nhơn nói riêng và Bình Định nói chung.
      Những bài thơ trong tập là “món ăn” đầu tiên của tôi. Nhặt lấy những câu thơ hay, những câu thơ đi vào lòng người theo cách riêng của mình tưởng dễ nhưng lại không phải. “Thành hoàng đế” của Lê Vinh mở đầu trang thơ là tâm tình của nhà thơ với “em” về quê hương-nơi một thời “huyền tích kinh xưa”, nơi chứng tích một thời “áo vải cờ đào” đầy tự hào, pha lẫn xót xa bi tráng…
     Trần Viết Dũng với “Vua và em” chân thành, với cảm xúc mạnh liệt, đâu chỉ viết về vị vua “áo vải” với “Ngọc Hân công chúa” mà muốn gửi thông điệp về chất người miền Trung hào sảng, độ lượng bao dung, biết yêu-ghét, biết “thời trang và rất phong trần…” nhưng cũng biết sống vì người mình cần yêu và cần sống… Non sông sinh “Người” mà Người cũng là con của non sông nước Việt thân yêu! “Ta trai Bình Định hơi khô cứng/ Rất thật tình riêng phong cách miền Trung/ Ô hay sông núi sinh người vậy/ Mà lúc nào cũng độ lượng bao dung…”.
   Hình ảnh Ngọc Hân ấy còn gặp trong thơ Đặng Quốc Khánh: Ngọc Hân xưa khóc Quang Trung/ Giờ em mắt lệ não nùng vì ai/ Rưng rưng giọt vắn giọt dài/ thấm ngàn sau điệu bi ai lỡ làng” (Người ngâm Ai Tư vãn).
      Tôi thích hình ảnh “Tháng Giêng sóng lúa chạy đồng” của tác giả Khổng Trường Chiến. Đây là một hình ảnh thơ thật đẹp kết hợp với câu sau “còn thương hoa cải trổ ngồng bên hiên…” làm cho ý thơ lung linh ấn tượng. Và cái ảo của câu thơ thứ tư “Cõng gánh chung riêng” cũng thật đắc địa. Và lúc này chung riêng có hình khối có sức nặng để nhân vật trữ tình có thể “run run cõng” một trời quê mình vào thi ca…
    Lê Thụy Phương với “Ngửa nón đầy ngọc lan” cho thấy hương vị núi rừng được anh mang về thị xã “thơm nức mùi đại ngàn”.  Và tôi chú ý đến những câu giàu cảm xúc làm tôi thảng thốt, bâng khuâng của Duy Phạm: “giọt lệ khô rơi mẹ tôi xưa nằm đợi/ vạt cỏ khâu chiều hoang hiu vời vợi/thắp nén hương lòng thổn thức gọi mẹ ơi…”.
   Ngày xuân, rượu và mai là đề tài thi nhân xưa nay ít nhiều được đưa vào thơ để người đọc thưởng thức. An Nhơn nổi tiếng với rượu Bàu Đá say đến nguyên tiêu vạn tứ thơ… (Rượu Hoàng Mai - Hồ Thế Phất)
   Chủ đề người phụ nữ cực nhọc lam lũ một đời được Kim Tiết, Vĩnh Tuy, Duy Phạm, Nam Art… khai thác qua cảm xúc chiêm nghiệm nên đủ độ chín để rung cảm. Rất ấn tượng khi đọc những câu này của Vĩnh Tuy: “Thương chồng thương các con thôi/ lệch vai gánh cả một đời trần ai/ giấu vào đêm tiếng thở dài/ các con vui mỗi sớm mai đến trường…”. 
    Thời buổi hiện nay gáo nhựa có mặt khắp nơi. Với Phạm Ánh, hình ảnh gáo dừa đi vào thơ thật dễ thương gợi nhớ một thời “chân quê”: “Gáo dừa mỗi gáo một nơi/ giếng quê tôi uống mấy đời vẫn trong…” và để yêu thương quê hương nén trong lòng nhà thơ bộc bạch: “giếng sâu giếng cạn bao nhiêu đã trong tận đáy thương yêu tận lòng” (Giếng quê- Phạm Ánh).
    Cảm nhận của nhà thơ thật tinh tế. Tôi rất thích kiểu diễn đạt như thì sĩ họ Phạm này: “Phụ hoa lỡ rụng một bông/ phụ lòng em rớt nên sông chút tình…”. Từ “lỡ” thật hay, đặt vào câu thơ cho thấy dụng ý chơi chữ của nhà thơ tinh tế thật. và tiếp theo “phụ lòng” để rớt “bên sông chút tình” làm câu thơ trước mạnh hơn, đủ cho thấy sự nâng niu trân trọng của nhà thơ trước cái đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống. Do vậy hai câu kết lại mở ra một tình yêu vô bờ bến của người thơ “đâu nỡ” “phụ mình” để rồi “tỏa hương trên lá trên nhành mừng nhau”. (Xuân, Phạm Văn Phương)
    Còn nhiều câu thơ hay trong tập tôi xin dành lại cho bạn đọc cùng thưởng thức. Trên từng bước đi của Văn nghệ An Nhơn từ những năm 80 của thế kỷ trước, thơ văn An Nhơn trưởng thành lớn mạnh. Từ một nhóm thơ “Tứ hữu Bàn thành” giờ người làm thơ đông đảo hùng hậu. Từ những bài thơ day dứt thân phận, hoài cổ, ca ngợi thiên nhiên, trải lòng… đến những bài thơ bám rễ vào hiện thực cuộc sống, ngợi ca An Nhơn nay đã thành thị xã khang trang, hiện đại. Từ chi hội VHNT của huyện trở thành Hội VHNT của thị xã với một đội ngũ người viết văn trưởng thành và có sự kế thừa của các em trong nhà trường với bài viết khá chắc tay. Văn nghệ An Nhơn thực sự đã trưởng thành trên mọi lĩnh vực: Thơ văn, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn học trong nhà trường… Thiết nghĩ nếu BCH Hội phối hợp tốt công tác tham mưu với lãnh đạo thị xã trong nâng cao chất lượng sáng tác văn học chắc chắn phong trào VHNT An Nhơn sẽ không ngừng lớn mạnh hơn, trở thành một Hội VHNT thị xã tiêu biểu trong cả nước, hoạt động sôi nổi, gây được ảnh hưởng đến đời sống VHNT nước nhà…
    Hy vọng và mong muốn sau cùng của tôi là Ban Biên tập cố gắng khắc phục hạn chế như đính chính sau sách, hoặc những sai sót không đáng có như những số tạp chí đã ra, để những tập sách sau được hoàn hảo hơn: đẹp về hình thức, phong phú và chuẩn xác hơn về nội dung thể hiện!

                                                   Tuy Phước, ngày 19.03.2019
                                                                        Lê Bá Duy

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

MỘT GIỌNG THƠ LẠ VÀ HAY - Bài của Nguyễn Huy

                                                                       Bích Ngọc

Nói thật, tôi là người ít đọc thơ. Cầm một tập thơ trong tay, tôi lướt qua các trang thơ theo kiểu cỡi ngựa xem hoa, nhưng gặp một câu thơ hay, một bài thơ có tứ mới, lập tức cái lướt nhìn dừng lại, tôi đọc kỹ nhiều lần để hiểu câu thơ đó, kiếm tìm cái hay của bài thơ đó.
Dân Việt ta có truyền thống yêu thích thơ ca, nên có rất nhiều người sính làm thơ. Có thể nói là ra ngõ gặp nhà thơ. Huy Trụ đã nói khá hay:
"Thơ là rượu của thế gian
Phải đâu nước lọc rót tràn mời nhau"
Để rồi chính anh cũng trăn trở, nghĩ suy, những bài thơ mình làm, những tập thơ mình đã xuất bản có phải là thơ đích thực, hay đó chỉ là thứ "nước lọc" nhạt nhẽo mà người ta vẫn thường đưa ra "mời nhau". Người làm thơ thì nhiều, hàng đống tập thơ đã được in ra, nhưng kiếm cho được loại thơ "rượu của nhân gian" ấy cũng có dễ đâu! Tôi lười đọc thơ, một phần cũng vì lẽ đó.
Lâu nay, trong nhãn quan của tôi, thơ là một thứ gì sâu xa, và nhà thơ thuộc lớp người cao sang, tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn. Nhưng bây giờ lớn tuổi rồi, về hưu nghỉ, tôi đâm ra muốn gần gũi các nhà thơ, thích nghe thơ của họ. Trong một lần thù tạc với các nhà thơ, các anh giới thiệu nhà thơ nữ Bích Ngọc. Thơ cô thì nhiều, có cả một tập dày, nhưng tôi chỉ xin cô cho nghe vài bài thơ tâm đắc. Có các nhà thơ đàn anh khích lệ, nên cô cũng vui vẻ đọc thơ. Tôi mang máng cảm nhận một thứ thơ ca đúng nghĩa. Chiều ý tôi, nữ sĩ đã chép gửi tôi năm bài, để về nhà "nhấm nháp cho vui!"
Tôi rất thích câu nói này của Bêilinxki: "Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật." Cuộc đời của người đàn bà này thế nào để có những vần thơ sâu sắc như thế! Vẫn là chất tình đó thôi, nhưng nó trĩu nặng tâm tư, mở và khép một tâm hồn sâu kín, muốn nhìn thấu cũng khó lắm thay!

1. Trước hết là một cơn mưa. Bích Ngọc thấy:
Tội cơn mưa

Anh lơ ngơ
Tiễn em
Chiều rất vội.
Ngại em về rớt lại nhớ thương.
Rất tội cơn mưa.
Chưa buồn đã khóc
Em đi rồi
Mưa ngọng nghịu lêu bêu.

Bài thơ mở ra một chất giọng đằm thắm:

Rất tội cơn mưa.
Chưa buồn đã khóc
Có vẻ như là tả một hiện tượng thiên nhiên. Mưa đổ nước, như những giọt lệ rơi. Nhưng sự cảm nhận rất tinh tế, ẩn sâu trong đó là chất tình: "tội", "chưa buồn, đã khóc". Thực ra, đó là cái tình nhớ thương khi xa cách: Tiễn em - Em đi rồi
Cái vẻ rất vội, ngại là sự bày tỏ: nhớ thương
Cái vẻ ngọng nghịu lêu bêu đó đâu chỉ là của cơn mưa, mà là con người. "Tội cơn mưa" chính là tội cho người ở lại trong nỗi nhớ thương sâu sắc!
Nói được cái tình đau xót một cách tinh tế bằng hình tượng lung linh, giọng thơ sâu lắng như thế, cũng là tài!

2. Từ ấy...

Vần thơ khởi sắc.
Khi đôi mắt nồng nàn anh đắm đuối nhìn em.
Từ ấy...
Hồn thơ bất tử.
Vịn lấy thời gian nước chảy đá mòn.

Nhà thơ rất tinh khi viết: "Từ ấy..." ( Chữ "Từ ấy" với dấu...) "Từ ấy" không chỉ một thời điểm cụ thể, mà có quá trình (từ "Vần thơ khởi sắc" đến "Hồn thơ bất tử"). Tình yêu có điểm khởi đầu, nhưng khó xác định cụ thể, giống như ranh giới giữa ngày và đêm, giữa vùng mưa và nắng. Tự nhiên tôi nhớ đến câu thơ của Xuân Quỳnh (Sóng): "Em cũng không biết nữa. Khi nào ta yêu nhau".

và gói chặt trong đó một khối tình
 đôi mắt nồng nàn anh đắm đuối nhìn
Vịn lấy thời gian nước chảy đá mòn
Câu thơ cuối hay, ý nghĩa sâu sắc. Từ "vịn" rất quen thuộc trong khẩu ngữ, Phùng Quán cũng từng dùng: "Vịn câu thơ mà đứng dậy", nhưng xuất hiện ở đây vẫn có chút mới lạ. Cũng thế, câu tục ngữ "nước chảy đá mòn" đi với "thời gian" đã trở nên sâu lắng bất ngờ. Cả câu nói lên một ý thơ trầm lắng, khẳng định sự bền chặt, thuỷ chung.
Bài thơ hay. Từ không mới, nhưng ý lạ, tứ thơ đằm thắm, thiết tha.

3. Dỗi hờn
Biển hồn nhiên

Sóng trở nhàu
Gối lên phận mỏng bạc đầu dưới trăng.
Trắng hồn - uống cạn tuyết băng
Môi khô còn khát vàng son thưở nào.

Gió bay

Bay một lời chào
Vỡ thành ngọn sóng
Sóng trào nguyên khôi.
Gọi nhau - trở kiếp luân hồi
Lạc nhau khản giọng - thì thôi cũng đành!
Hồn nhiên biển mãi còn xanh

Cách thể hiện "dỗi hờn" như thế này thì hơi khó hiểu. Đó là sự "dỗi hờn" của người phụ nữ ở tuối "tri thiên mệnh", muốn yêu chân thành và hồn nhiên như bao người trai trẻ, nhưng có được đâu! Cho nên, "lời chào" theo gió bay, tan thành sóng, nhưng chất "nguyên khôi" vẫn còn đó. Suốt đời "lạc nhau", "gọi nhau" đến "khản giọng" "thì thôi - cũng đành!"

Mượn ngọn sóng trên biển xanh để nói về sự dỗi hờn thân phận:
Biển hồn nhiên
Sóng trở nhàu
cũng là một cách biểu hiện mới lạ của thơ Bích Ngọc. Đó là một ẩn dụ đặc sắc, được vận dụng sáng tạo trong toàn bài. Cho nên, sự dỗi hờn ở đây có chiều sâu của tui tác, có sự chín chắn của con người từng trải, tất cả làm nên độ sâu của bài thơ. "Dỗi hờn" đã trở thành tiếng than thân phận: "phận mỏng bạc đầu", mặc dù nỗi khao khát thương yêu vẫn còn nguyên vẹn:
Trắng hồn - uống cạn tuyết băng
Môi khô còn khát vàng son thưở nào.
Bài thơ tuy có chất tình sâu, tính nhân bản cao, nhưng nghệ thuật còn có chỗ gò ép, khiên cưỡng. Tuy nhiên, dùng câu chữ khuôn sáo để biểu hiện một tứ thơ mới lạ cũng là một nét thành công của bài thơ.

4. Những chuyến xe
Chiều qua -

Người chở thơ tình
Chuyến xe lộng lẫy hành trình im thinh.

Chiều nay - 

Ta chở thơ mình.
Chuyến xe lam lũ giọt tình hư không.

Chở hoài -

Một mớ bòng bong!
Xe lăn cọc cạch bụi hồng mù tăm.

Chở hoài -

Câu chuyện trăm năm.
Chừng nghe hóa kiếp -
Lăm nhăm phận người!...

Bài thơ nói về chuyện tình, nhưng ẩn sâu trong đó là "phận người". Chuyện tình trong thơ Bích Ngọc thường là chẳng vui, luôn ẩn chứa nỗi niềm đau xót, một nỗi đau thân phận. Có gì mà phải luôn đau đớn thế! Cuộc đời của nhà thơ chắc là có nhiều trắc trở, vui ít, buồn nhiều...Tôi nghĩ thế, vì chủ thể trong thơ trữ tình thường là nhà thơ!
"Những chuyến xe" (Tên ban đầu:"Chuyến xe tình") chở tình yêu trong đời người. Trong đời, ai chẳng có một lần yêu! Nhưng tình yêu của người thì êm xuôi, tươi đẹp:

Chiều qua
Người chở thơ tình
Chuyến xe lộng lẫy hành trình im thinh.
Còn mình thì vất vả, long đong; có mà như không:
Chiều nay 
Ta chở thơ mình.
Chuyến xe lam lũ giọt tình hư không.

Cả cuộc đời khát khao, tìm kiếm hoài để có được "Một mớ bòng bong!". Chuyện tình của mình sao toàn những rối ren (mớ bòng bong), trắc trở (cọc cạch) trong cõi hồng trần tối tăm, mù mịt này!

Chở hoài
Một mớ bòng bong!
Xe lăn cọc cạch bụi hồng mù tăm.
Những câu thơ đầy hình tượng ẩn dụ đã nói được cụ thể nhưng kín đáo nỗi đau trong tình yêu không trọn vẹn, không đẹp như trong mơ ước!
Mạch thơ nối tiếp như một tất yếu là tiếng than thân phận. Đó không còn là phận mình, hay phận đàn bà nói riêng , mà là "phận người" - thân phận, nỗi đau con người nói chung!
Chở hoài
Câu chuyện trăm năm.
Chừng nghe hoá kiếp
Lăm nhăm phận người!...
Từ "lăm nhăm" mới lạ, nhưng hơi khó hiểu. Có phải nhà thơ muốn nói đến ý không trọn vẹn, thiếu hoàn thiện? Từ "hoá kiếp" quen thuộc, dùng ở đây nói được một ý sâu: Cuộc đời con người này với nhiều vất vả, thương đau trong tình duyên ở kiếp này, nhưng đến kiếp sau, cũng thế chăng? Cũng "lăm nhăm phận người". Nỗi đau, nỗi chán ngán như nhân đôi trong những kiếp người khổ đau tiếp nối. Những câu thơ cuối nghe như một tiếng thở dài, rất buồn nhưng không đau lắm. Phải chấp nhận thôi! Đó là bản lĩnh của chủ thể trữ tình, cũng là của người đàn bà làm thơ này (ta chở thơ mình).

5. Phố thị chiều qua
Mẹ ra phố thị chiều qua.

Nhẩm hoài chưa thuộc bài ca phận người.
Tím môi chia nửa nụ cười.
Đau dày ngỏ ngách đưa hời bước chân.
Khúc quanh - được mấy người thân!
Rễ-cây-cành-lá - có cần nhau không?

Mẹ ra phố thị chiều đông.

Ngựa thồ chở bóng lông ngông - thật thà.
Ngậm lời - vọng khúc cuồng ca.
Sót vài giọt máu - tứa ra bời bời.
Máu khô nung cháy dòng đời.
Lửa hừng nguyên thuỷ soi lời gọi nhau.
Gọi người cuồng khúc khản đau.
Lòng không - phố nghẽn - dàu dàu bi ca.

Mẹ ra phố thị chiều qua...
Khúc cuồng ca chính là "bài ca phận người". "Cuồng ca" là đau quá, giận quá mà hát lên như điên, như cuồng. Ở đây, người ca hát là một người tỉnh táo hoàn toàn, luôn nhẩm "Khúc cuồng ca", với nỗi đau thân phận.

Đó là nỗi đau của mẹ mà cũng là của ta:

Mẹ ra phố thị chiều qua.

Nhẩm hoài chưa thuộc bài ca phận người.

Mẹ ra phố thị chiều đông.

Ngựa thồ chở bóng lông ngông - thật thà.
Ngậm lời - vọng khúc cuồng ca.

Nỗi đau đó có những gì?

- Đau đớn theo từng bước chân luồn lách trên mọi ngả ngách cuộc đời:
Đau dày ngỏ ngách đưa hời bước chân
- Trong những "khúc quanh" của cuộc đời (lúc khó khăn, cùng quẫn) , vắng người đồng cảm, sẻ chia!
Khúc quanh - được mấy người thân!
Rễ-cây-cành-lá - Có cần nhau không?
Câu thơ như một lời oán trách về nhân tình thế thái! - Buồn người sống xa lạ, lạnh lùng với nhau. Nỗi buồn câm nín, nhưng đau xót vô cùng, đến nỗi thân xác xanh xao, khô gầy cũng muốn túa máu ra để nung nóng tình người:
Ngậm lời - vọng khúc cuồng ca.
Sót vài giọt máu - tứa ra bời bời.
Máu khô nung cháy dòng đời.
Lửa hừng nguyên thuỷ soi lời gọi nhau.
Đau dữ, nhưng không trách nhiều. Tất cả cô đọng thành một khát vọng lớn lao, một nỗ lực cùng cực: "Máu khô nung cháy" thành "Lửa hừng" để "gọi nhau". Những câu thơ tràn đầy hình ảnh ghê rợn, ma quái kỳ lạ hợp thành một "lời gọi nhau".
Cả cuộc đời là một tiếng gọi thê thiết : hãy tìm đến với nhau, sống gấn nhau.
Gọi người cuồng khúc khản đau.
Lòng không - phố nghẽn - dàu dàu bi ca.
Bài thơ nói lên nỗi đau kiếp người. Con người trong bài thơ chí là một cái "bóng lông ngông - thật thà" đi trên đường đời đầy đau khổ (đau dày), xung quanh mình chỉ là những người xa lạ (được mấy người thân?). Đau nhưng cố chịu, chỉ nung nấu một khát vọng tình người. Khát vọng lớn đó làm nên giá trị nhân bản, nhân văn cao của bài thơ. Khó mà tìm thấy một "cuồng khúc khản đau" như thế trong thơ ca đương đại!

Tôi nhớ đến một định nghĩa về thơ của Nguyễn Tuân: "... thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình. Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn. Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở được ra một cái diện không gian thời gian, trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp." (Thời và thơ Tú Xương) và thấy rằng thơ Bích Ngọc đáp ứng được yêu cầu đó. Thơ của cô như muốn gửi một thông điệp cho đời, cho mỗi người chúng ta. Đó là thơ ca đích thực, chứ không phải thứ văn vần làm dáng ra thơ! Chính vì thế, đọc thơ Bích Ngọc không dễ chút nào. Người đọc có trình độ "thường thường bậc trung" như tôi thì suy nghĩ đến toát mồ hôi cũng chưa chắc hiểu hết, hiểu trúng được. Có điều, xin nói nhỏ với nhà thơ: "Cũng chừng mực thôi, không khéo lại rơi vào thứ thơ ca bí hiểm!" Thôi thì cũng mạo muội vài lời, có gì phật ý, mong nữ sỹ lượng thứ!
15.7.2010
N.H

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

NGƯỜI VIẾT TRẺ ĐÃ NHẬP CUỘC? - Bài của Nguyễn Văn Học(*)




                                                Nhà văn trẻ Nguyễn Văn Học


Nhiu nhà phê bình văn hc ch ra, hn chế ln nht ca các cây bút tr là vn sng còn mng và dưng như h quá quan tâm đến cái tôi cá nhân. Vic quanh qun vi vài ba cm xúc bt cht hay vài dòng suy tư mang v triết lý s làm cho nhà văn tr thiếu chiu sâu. Tôi không ph nhn sch trơn, rng ngưi viết ch da vào chút năng khiếu cá nhân mà thành nhà văn. Có trưng hp như vy và điu đó xy ra nhng thiên tài. Còn khi viết đưc vài truyn ngn "đc đưc", hoc ch là nhng tác phm đm cht gii trí, nht thi, thiếu chiu sâu đã nghĩ mình tr thành thiên tài, ri không chu trau di, hc hi thì coi như ngưi đó đã t khai t nghip văn ca mình.

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

LẠI NHỚ NGƯỜI TÌNH CŨ - Truyện ngắn của Nguyễn Thanh Hiện(*)

                                            

                                          Nhà văn Nguyễn Thanh Hiện

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI MẸ XÓM CHÒI - Tạp bút của Trần Duy Đức(*)


                 
                                                     
      


         Nằm ở bờ nam của nhánh phía bắc  sông Côn, cuối làng Tân Kiều, xã Nhơn Mỹ có xóm Tân Ninh mà bao đời người dân ở đây vẫn gọi xóm Chòi. Ấy là là nơi sinh ra, lớn lên của một người đàn bà mà cuộc đời đã trở thành huyền thoại. Vợ chồng cụ Phan Huệ và Nguyễn Thị Cúc sinh người con gái đầu lòng đặt tên là Đựng, cái tên cúng cơm đã đeo bám suốt đời một người phụ nữ chịu đựng gian khổ.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

TRỞ LẠI BÊN BỜ SÔNG CÔN - Truyện ngắn của Nguyễn Hữu Duyên



     Ông ngồi im lặng. Trước mặt ông là di ảnh người phụ nữ trên bàn thờ, người mà hơn 55 năm trước, đã đưa ông qua nhánh phía nam của sông Côn trong tình huống không kém phần nguy hiểm trên chiếc sõng câu để về hầm bí mật được đào ngay trong buồng nhà chị. Lỗ thông hơi nằm giữa bụi tre rất rộng cách nhà chị khoảng 10 mét, nên địch không thể phát hiện được. Căn hầm này được  đội công tác của xã đào với sự cảnh giới của chị.

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

MÙA NÀY, SAO CỨ DÀI NHUNG NHỚ… - Tản văn Ngô Thúy Nga

Cây bút trẻ Ngô Thúy Nga

Trong nhng gic mơ thi thong lp li, tôi thy mình mc cánh, và bay đi. Đôi khi, chng biết vô tình hay hu ý, bn bè vn thường bông đùa rng, mày c như loài chim di, nay đây mai đó, không biết mt. . Cuc đi là nhng chuyến đi, dài và ngn. Đôi khi, c đi thế thôi, chng biết đ làm gì…
Tôi ngược v Dran, mnh đt chưa mt ln đt chân đến, không chc vì mt lý do nào c. Bng dưng, mun đi, mun b ph v núi, mun vùi mình tan đi trong mù sương. Có l, ti đi trôi nhanh quá, nên đôi khi, thy cn nhng khong lng đ đong đếm nhng bun vui ca cuc đi.